Danh mục
Trang chủ >> Hỏi Đáp Y Dược >> Vi khuẩn Lao là gì? Đặc điểm của vi khuẩn lao?

Vi khuẩn Lao là gì? Đặc điểm của vi khuẩn lao?

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (1 votes, average: 5,00 out of 5)
Loading...

Bệnh lao, một bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam. Vi khuẩn lao phổi đã được phát hiện vào năm 1982 bởi Robert Koch, và từ đó, các nhà nghiên cứu đã xác định những đặc điểm quan trọng của vi khuẩn này.

Vi khuẩn gây bệnh lao là gì?

Theo các bác sĩ, giảng viên Cao đẳng Y Dược TPHCM cho biết, Vi khuẩn gây bệnh lao, thuộc họ Mycobacteriaceae, có kích thước từ 3-5 μm, không có lông, hình dạng hai đầu tròn, thân chia thành hạt và có thể đứng riêng hoặc tạo thành đám trên tiêu bản nhuộm Ziehl-Neelsen.

Đặc điểm của vi khuẩn lao bao gồm khả năng chống cồn và acid, thở không khí hoàn toàn, sinh sản chậm (mỗi lần mất khoảng 20-24 giờ), và có nhiều quần thể chuyển hóa khác nhau tại các vùng tổn thương.

Vi khuẩn lao có khả năng thích ứng với môi trường, thay đổi khả năng gây bệnh dưới tác động của môi trường. Nó cũng thể hiện khả năng kháng lại với các loại thuốc điều trị bệnh lao như lao phổi, lao hạch, lao màng bụng, và nhiều loại khác.

Vi khuẩn lao có khả năng tồn tại trong nhiều điều kiện khác nhau:

  • Trong môi trường tự nhiên, vi khuẩn lao có thể tồn tại từ 3-4 tháng, trong khi trong điều kiện phòng thí nghiệm, nó có thể được bảo quản trong nhiều năm.
  • Đờm của bệnh nhân lao trong môi trường tối và ẩm có thể giữ độc lực trong vòng 3 tháng.
  • Dưới ánh nắng mặt trời, vi khuẩn lao bị tiêu diệt sau khoảng 1,5 giờ.
  • Vi khuẩn lao dừng phát triển ở 42°C và chết sau 10 phút ở 100°C.
  • Cồn 90°C có thể tiêu diệt vi khuẩn lao trong 3 phút.
  • Trong acid phenic 5%, vi khuẩn chỉ sống được khoảng 1 phút.

Các quần thể chuyển hóa khác nhau của vi khuẩn lao tại tổn thương

Vi khuẩn lao có các quần thể chuyển hóa khác nhau tại tổn thương, được phân loại thành các nhóm A, B, C và D:

Nhóm A: Bao gồm vi khuẩn khu trú ở vách hang lao với điều kiện oxy đầy đủ, độ pH kiềm, thuận lợi cho sự phát triển. Đây là nhóm vi khuẩn phát triển mạnh mẽ, số lượng lớn, nằm ngoài tế bào. Chúng dễ bị tiêu diệt bởi các thuốc điều trị lao.

Nhóm B: Chứa vi khuẩn khu trú ở vách hang lao sâu hơn nhóm A, với độ pH kiềm và áp lực oxy thấp hơn, dẫn đến sự phát triển chậm hơn. Chỉ có rifampicin và isoniazid là hiệu quả trong nhóm này.

Nhóm C: Gồm vi khuẩn đã bị thực bào và nằm trong đại thực bào, phát triển chậm do độ pH toàn. Pyrazinamid là thuốc hiệu quả nhất, sau đó là rifampicin, isoniazid có tác dụng ít, và streptomycin không tác dụng.

Nhóm D: Chứa vi khuẩn gây bệnh nằm trong đại thực bào, không chuyển hóa hoặc phát triển, được gọi là nhóm “ngủ”. Các thuốc chống lao không có tác dụng, nhưng số lượng vi khuẩn trong nhóm này ít và có thể tự bị tiêu diệt bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể.

Khả năng gây bệnh của vi khuẩn lao

Theo giảng viên tại trường Cao đẳng Dược Hà Nội, Quá trình gây bệnh của vi khuẩn lao phụ thuộc vào cả độc lực của vi khuẩn và sức đề kháng của cơ thể. Bệnh lao thường trải qua hai giai đoạn chính:

Giai đoạn lao sơ nhiễm: Vi khuẩn lao khi lần đầu tiên xâm nhập vào cơ thể thường tạo tổn thương ở vùng ngoại vi của phổi, nơi có thông khí rất lớn. Sau khoảng 2-4 tuần, khi cơ thể trở nên quá mẫn, tổn thương dạng hạt xuất hiện và hạt lao điển hình được hình thành. Vi khuẩn lao lúc này di chuyển đến các hạch bạch huyết kế cận và vào máu, lan truyền khắp cơ thể.

Giai đoạn lao tái phát: Phần lớn các trường hợp lao xuất phát từ việc tái phát ổ bệnh sau giai đoạn lao sơ nhiễm. Ổ bệnh thường khu trú ở phần dưới hoặc gần đỉnh phổi do ở đó có nồng độ oxy cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn lao. Khi bệnh được phát hiện, tổn thương bã đậu đã lỏng hóa và hình thành các hang lao, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lao phân tán nhanh chóng.

Bệnh lao có thể lây truyền qua đường hô hấp và đờm dãi. Ngoài phổi, bệnh lao có thể tiến triển ở nhiều cơ quan khác nhau như đường niệu, xương khớp, màng phổi, màng bụng, hay hạch.

Nguồn: thaythuoc.edu.vn

Có thể bạn quan tâm

Ý nghĩa của định lượng CEA tìm dấu ấn ung thư

CEA xuất hiện trong tế bào ruột thai nhi và chỉ có nồng độ rất …