Danh mục
Trang chủ >> Đông Y >> Tìm hiểu công dụng chữa bệnh từ cây Bông ổi

Tìm hiểu công dụng chữa bệnh từ cây Bông ổi

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (1 votes, average: 5,00 out of 5)
Loading...

Bông ổi là một loại cây thuộc họ Cỏ roi ngựa, đây là một loại cây dại mọc tự nhiên được xem là một cây thuốc quý được, một loại thảo dược đặc biệt với công dụng chữa bệnh vô cùng hữu ích.

Bông ổi là loại cây thường mọc hoang phân bố khắp nước ta

Bông ổi là loại cây thường mọc hoang phân bố khắp nước ta

Thông tin nhận biết về cây bông ổi

Bông ổi hay còn được gọi với tên khác là Hoa ngũ sắc, trâm ổi,…có tên khoa học là Lantana camara L, bông ổi là một cây thuốc nam quý, dạng cây nhỏ, cao tới 1,5m-2m hay hơn. Thân có gai; cành dài, hình vuông, có gai ngắn và lông ráp. Lá mọc đối, khía rạng, mặt dưới có lông. Cụm hoa là những bông co lại thành đầu giả mọc ở nách các lá ở ngọn. Hoa lưỡng tính, không đều, thoạt tiên vàng dợi rồi vàng kim, vàng tươi, sau cùng đỏ chói, ít khi toàn hoa trắng. Quả bạch hình cầu, nằm trong lá dài, khi chín màu đen; nhân gồm 1-2 hạt cứng, xù xì.

Theo đông y, Lá bông ổi có vị đắng, hôi, tính mát, hơi có độc, có tác dụng hạ sốt, tiêu độc, tiêu sưng. Hoa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng cầm máu. Rễ có vị dịu, tính mát, có tác dụng hạ sốt, tiêu độc, giảm đau. N Công dụng, chỉ định và phối hợp: Rễ thường dùng trị sốt lâu không dứt, quai bị, phong thấp đau xương, chấn thương bầm giáp. Hoa dùng trị lao với ho ra máu và hạ huyết áp. Lá dùng ngoài đắp vết thương, vết loét hoặc dùng để cầm máu; cũng dùng trị ghẻ lở, viêm da , các vết chàm và dùng chườm nóng trị Thấp khớp. Thường dùng tươi giã đắp ngoài hay nấu nước để rửa. Hoa dùng làm thuốc trị ho với liều 12 g, dạng thuốc sắc hay hâm nóng hoặc chế xi rô.

Thành phần hóa học có trong cây Bông ổi

Các giảng viên khoa Cao đẳng Xét nghiệm TPHCM tại Trường Cao đẳng Y dược TPHCM cho biết trong bông ổi có chứa một số thành phần hóa học như lá chứa 0,2% tinh dầu; ở hoa khô chỉ có 0,07 %. Tinh dầu có 8% terpen bicyclic và 10%-12 % L-a-phelandren. Tinh dầu bông ổi Ấn Độ chứa cameren, isocameren và micranen. Trong vỏ có 0,08 % lantanin, là một alcaloid. Lá trong thời kỳ có hoa chứa 0,31%-0,68 % lantanin, còn có lantaden.

Bông ổi và một vài tác dụng dược lý của cây

Theo chia sẻ của dược sĩ Nguyễn Thị Thắm hiện đang là giảng viên Cao đẳng Dược TPHCM cho biết lantanin, cũng như quinin, làm giảm sự tuần hoàn và hạ nhiệt; Đài hoa của cây Bông ổi có tác dụng chống co thắt cơ trơn, làm thư giãn cơ trơn tử cung, làm hạ huyết áp và có tính kháng sinh, trị ho, viêm họng. Kinh nghiệm dân gian là nhai ngậm đài hoa Bông ổi để trị viêm họng , ho. Đài và lá cũng được dùng làm thuốc nhuận gan, lợi tiểu. Dịch chiết nước đài hoa Bông ổi đem tiêm vào mèo thí nghiệm (không gây mê) cho thấy có tác dụng hạ huyết áp. Tác dụng này bị ngăn cản bởi atropin Một chiết đoạn polysaccharit nụ hoaBông ổi tan trong nước có tính chất như pectin polysacharit làm chậm sự phát triển của khối u sarcoma 180 cấy ghép trên chuột. Dầu ép từ hạt Bông ổi và chất không xà phòng hoá có tác dụng kháng sinh trên một số chủng vi khuẩn như Coryne bacterium pyogenes, Escherichia coli , Salmonella typhi, Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus… và có tác dụng kháng nấm trên một vài loài nấm: trychophyton, aspergillus, cryptococcus…

Ứng dụng bông ổi và các bài thuốc chữa bệnh

Bông ổi được vận dụng vào nhiều bài thuốc chữa bệnh vô cùng hiệu quả

Bông ổi được vận dụng vào nhiều bài thuốc chữa bệnh vô cùng hiệu quả

  • Chấn thương bầm giập, vết thương chảy máu: Giã lá bông ổi tươi đắp ngoài. Hoặc dùng 30g lá khô, với 10g gừng khô tán bột rắc lên vết thương ngày một lần.
  • Chấn thương bầm giập, vết thương chảy máu, giã lá tươi đắp ngoài. Hoặc dùng 30g lá khô, với 10g gừng khô tán bột rắc lên vết thương ngày một lần.
  • Chữa chứng ho do lạnh: Lấy hoa ngũ sắc 20g để tươi hoặc 10g phơi khô, sắc với 500ml nước còn 100ml, uống trong ngày. Dùng riêng hoặc phối hợp với hoa hòe sao đen và rễ bạch cập, mỗi thứ 8g. Có thể thêm đường cho dễ uống. Nước sắc này còn chữa cảm sốt, tăng huyết áp. Dùng liền 5 ngày.
  • Ho ra máu và lao phổi Dùng hoa khô 6-10g nấu nước uống.
  • Viêm da, eczema, tinea, mụn nhọt. Nấu lá tươi để rửa ngoài.
  • Ho ra máu và lao phổi: Dùng hoa ngũ sắc khô 6 – 10g nấu nước uống.
  • Chữa mẩn ngứa: Lá và hoa ngũ sắc khoảng 30 – 50g, nấu lấy nước đặc, tắm, ngâm rửa hằng ngày.
  • Trị chứng tiêu khát của bệnh đái tháo đường: Lấy toàn bộ cả cành, lá và hoa cây ngũ sắc phơi khô. Thái khúc cho vào lọ đậy kín. Dùng dần, mỗi ngày lấy khoảng 40g, cho 500ml nước, sắc còn lại 150ml, uống thay trà hàng ngày. Có thể kết hợp ǎn cháo nấu từ củ mài và củ súng thì càng tốt. Dùng liền 10 ngày.
  • Thuốc cầm máu, sát khuẩn, chữa vết thương nhỏ hẹp: Lá và hoa ngũ sắc 30 g phối hợp với gừng tươi 10g, phơi hoặc sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn, rắc vào vết thương. Ngày thay băng một lần. Hoặc lá ngũ sắc để tươi, rửa sạch, giã đắp vào vết thương. Nếu vết thương rộng thì sơ cứu xong sau đó đến cơ sở y tế để được cấp cứu.

Ngoài ra công dụng trên các bác sĩ, lương y tại Trường Cao đẳng Y dược TPHCM cũng lưu ý với các bạn đọc rằng bông ổi không có tác dụng chữa viêm xoang như cây cứt lợn Ageratum conyzoides nên cần chú ý tránh dùng nhầm.

Có thể bạn quan tâm

Vải thiều – Công dụng chữa bệnh tuyệt vời trong y học

Vải thiều là một loại trái cây được rất nhiều người Việt Nam yêu thích. …