Danh mục
Trang chủ >> Đông Y >> Dược liệu phá cố chỉ có công dụng như nào trong y học cổ truyền?

Dược liệu phá cố chỉ có công dụng như nào trong y học cổ truyền?

Trong kho tàng dược liệu của Y học cổ truyền, phá cố chỉ được xem là một vị thuốc quý. Tuy không quá phổ biến như nhân sâm hay đương quy, nhưng phá cố chỉ lại được đánh giá cao nhờ khả năng hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh liên quan đến thận, xương khớp và da liễu.

Phá cố chỉ còn được gọi với nhiều tên khác như Bổ cốt chi hay Đậu miêu. Tên khoa học của cây là Cullen corylifolium (L.) Medik., thuộc họ Đậu. Đây là cây thân thảo nhỏ, chiều cao trung bình từ 30cm đến 1m, mọc hằng năm. Thân cây thường phủ một lớp lông trắng mịn, lá hình trứng, mép có răng cưa và mọc so le. Hoa phá cố chỉ mọc thành chùm ở kẽ lá, còn quả có màu đen, kích thước nhỏ, bên trong chứa hạt hình thận hoặc hình trứng dẹt.

Nguồn gốc của phá cố chỉ được xác định từ Ấn Độ, sau đó được trồng tại Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam. Hiện nay cây được trồng rải rác ở một số tỉnh, chủ yếu để làm dược liệu phục vụ cho các bài thuốc Y học cổ truyền. Thời điểm thu hoạch thường vào mùa thu khi quả chín, người dân hái về phơi khô, đập lấy hạt rồi sàng sạch bụi đất. Khi sử dụng có thể dùng sống hoặc sao vàng, tẩm muối hay tẩm rượu để tăng hiệu quả dược tính.

Trong hạt phá cố chỉ có chứa khoảng 20% dầu béo cùng nhiều hoạt chất như psoralen, isopsoralen, alcaloid, glucozit và tinh dầu. Theo nghiên cứu dược lý, các thành phần này có khả năng kháng khuẩn, kích thích tăng sắc tố da, hỗ trợ tuần hoàn máu và tăng co bóp cơ tim. Nhờ vậy, phá cố chỉ thường xuất hiện trong nhiều bài thuốc điều trị bạch biến, suy nhược cơ thể hay các bệnh lý về da trong Y học cổ truyền.

Theo quan điểm Đông y, phá cố chỉ có vị cay, đắng, tính đại ôn, quy kinh thận và tỳ. Công dụng chính là bổ thận, tráng dương, ôn tỳ, chỉ tả và cố tinh. Dân gian thường sử dụng phá cố chỉ như một vị thuốc bổ dành cho người lớn tuổi, người hay đau lưng mỏi gối, tiểu đêm nhiều hoặc cơ thể suy nhược.

Ngoài ra, phụ nữ có thể dùng phá cố chỉ trong một số bài thuốc hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm khí hư. Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là hạt, có thể sao vàng cho thơm hoặc chích muối, chích rượu trước khi sử dụng. Mỗi cách chế biến lại giúp tăng cường một số công năng nhất định, phù hợp với mục đích điều trị trong Y học cổ truyền.

Theo giảng viên Cao đẳng Y học cổ truyền, Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn cho biết công dụng của dược liệu phá cố chỉ gồm:

Hỗ trợ viêm phế quản mạn tính, khó thở

Phá cố chỉ kết hợp cùng thỏ ty tử, hồ đào nhục, nhũ hương và mật ong, sắc uống hằng ngày giúp giảm ho dai dẳng và tức ngực.

Điều trị bạch biến ngoài da

Hạt phá cố chỉ giã dập, ngâm với cồn nồng độ thấp trong vài tuần rồi dùng dung dịch chấm lên vùng da bị bạch biến để kích thích tái tạo sắc tố.

Giảm tiểu tiện nhiều lần

Phá cố chỉ chích muối kết hợp tiểu hồi hương, tán bột mịn, uống trước bữa ăn giúp cải thiện tình trạng tiểu đêm.

Hỗ trợ liệt dương, di tinh, đau lưng mỏi gối

Phá cố chỉ thường phối hợp với ba kích, đương quy, thục địa và hồ đào nhục, dùng dưới dạng sắc uống hoặc ngâm rượu.

Hỗ trợ tiêu chảy mạn tính

Kết hợp phá cố chỉ với hoài sơn, sâm bố chính và trần bì giúp kiện tỳ, ôn trung và cầm tiêu chảy hiệu quả.

Những bài thuốc trên chủ yếu mang tính tham khảo, thường được lưu truyền trong dân gian và ứng dụng rộng rãi trong Y học cổ truyền nhiều đời.

Mặc dù là dược liệu quý, phá cố chỉ không phù hợp với tất cả mọi người. Những người bị viêm loét dạ dày, viêm đường tiêu hóa, xuất huyết hoặc phụ nữ rong kinh nên hạn chế dùng vì có thể làm tình trạng nặng hơn. Khi dùng ngoài da cũng cần pha loãng dung dịch, tránh bôi quá đặc hoặc quá nhiều lần trong ngày để hạn chế kích ứng.

Ngoài ra, việc tự ý phối thuốc hoặc dùng liều cao kéo dài có thể gây tác dụng phụ. Do đó, trước khi áp dụng các bài thuốc từ phá cố chỉ, người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc thầy thuốc chuyên môn trong lĩnh vực Y học cổ truyền để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

Có thể bạn quan tâm

Ngải cứu hỗ trợ giảm đau nhức xương khớp hiệu quả trong mùa lạnh

Ngải cứu là dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền, có tính ấm, …