Bên cạnh nguyên nhân do thiếu hụt Vitamin D từ nguồn cung không đầy đủ, bệnh còi xương còn có thể xuất phát từ rối loạn trong quá trình chuyển hóa Vitamin D. Tình trạng này dẫn đến việc cơ thể không sản sinh đủ Vitamin D3 – dạng vitamin đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và hình thành xương.
Tổng quan về bệnh Còi xương
Theo Bác sĩ, giảng viên Cao đẳng Dược cho biết, Còi xương là một bệnh lý khá phổ biến ở trẻ nhỏ, đặc trưng bởi tình trạng rối loạn chuyển hóa xương, dẫn đến sự loạn dưỡng và hình thành khung xương không hoàn chỉnh. Bệnh thường xuất hiện ở trẻ dưới 3 tuổi và phổ biến hơn ở các khu vực miền núi – nơi có khí hậu sương mù, ít ánh nắng mặt trời. Thiếu ánh sáng tự nhiên khiến quá trình tổng hợp vitamin D bị hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng hấp thu và chuyển hóa canxi, photpho – hai khoáng chất thiết yếu cấu tạo nên hệ xương.
Tuy nhiên, không chỉ trẻ em vùng cao, ngay cả trẻ sống ở thành thị cũng có nguy cơ mắc bệnh còi xương. Nguyên nhân là do trẻ thường được bao bọc quá mức, ít được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, từ đó dẫn đến thiếu hụt vitamin D nội sinh.
Nguyên nhân gây bệnh Còi xương
Nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh còi xương ở trẻ là do thiếu hụt vitamin D – yếu tố thiết yếu giúp hấp thu canxi và hình thành hệ xương khỏe mạnh. Vitamin D có thể được cung cấp từ hai nguồn:
-
Nguồn ngoại sinh: thông qua thực phẩm và sữa mẹ. Tuy nhiên, lượng vitamin D từ nguồn này thường rất hạn chế. Vì vitamin D tan trong chất béo, nên nếu khẩu phần ăn thiếu dầu mỡ, khả năng hấp thu cũng sẽ giảm đáng kể.
-
Nguồn nội sinh: là nguồn chủ yếu, được tổng hợp từ tiền chất dưới da dưới tác động của ánh sáng mặt trời, tạo thành vitamin D3 – dạng hoạt động giúp chuyển hóa và tạo xương.
Ngoài thiếu vitamin D, một số trường hợp hiếm gặp có thể do thiếu vitamin K2 (cần thiết trong quá trình vận chuyển canxi vào xương), hoặc thiếu các khoáng chất quan trọng như canxi, photpho, kẽm, magie – những thành phần cấu tạo xương.
Triệu chứng của bệnh Còi xương
-
Toàn thân: Trẻ có biểu hiện chán ăn, kém tăng cân, suy dinh dưỡng.
-
Hệ xương:
-
Ở sọ: Thóp liền muộn (trên 12 tháng vẫn còn rộng), bờ thóp mềm, vòng đầu to, xuất hiện bướu trán hoặc bướu đỉnh.
-
Răng mọc chậm, răng mọc lệch lạc, dễ sâu răng.
-
Ở chi: Xương chân cong, cổ tay và cổ chân to bất thường, lồng ngực biến dạng dạng ức gà, xuất hiện chuỗi hạt sườn.
-
Trẻ chậm phát triển vận động như biết lẫy, biết bò, biết đi muộn.
-
-
Hệ thần kinh: Trẻ dễ giật mình, ngủ không sâu, ra nhiều mồ hôi vào ban đêm (mồ hôi trộm), gây rụng tóc vùng gáy. Trường hợp nặng có thể gây hạ canxi máu, dẫn đến co giật, nôn trớ nhiều, quấy khóc liên tục.
Đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh Còi xương
-
Trẻ sống tại khu vực ít ánh nắng hoặc được chăm sóc trong môi trường khép kín, ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
-
Trẻ sinh non hoặc đa thai (sinh đôi, sinh ba) do không được tích lũy đầy đủ dưỡng chất từ giai đoạn trong bụng mẹ.
-
Trẻ có chế độ ăn thiếu cân đối, đặc biệt là thiếu dầu mỡ – yếu tố cần thiết để hấp thu vitamin D tan trong chất béo.
Phòng ngừa bệnh Còi xương
-
Phụ nữ mang thai cần được bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đặc biệt trong các trường hợp mang đa thai – nhu cầu vitamin D, canxi sẽ cao hơn.
-
Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời. Sữa mẹ cung cấp lượng vitamin D và dưỡng chất tự nhiên, dễ hấp thu hơn so với sữa công thức.
-
Khi trẻ bước vào giai đoạn ăn dặm, cần xây dựng khẩu phần cân đối, đầy đủ canxi, photpho và chất béo.
-
Tắm nắng hàng ngày vào sáng sớm (trước 9h) trong khoảng 10–20 phút để kích thích tổng hợp vitamin D tự nhiên.
-
Với trẻ sống ở vùng ít nắng hoặc có nguy cơ thiếu hụt, cần bổ sung vitamin D3 bằng đường uống theo hướng dẫn của bác sĩ. Chế độ ăn cũng cần đảm bảo có chất béo để hỗ trợ hấp thu vitamin D hiệu quả.
Điều trị bệnh Còi xương
Giảng viên Trường Cao đẳng Dược Hà Nội cho hay, Việc điều trị chủ yếu dựa trên bổ sung vitamin D và thay đổi thói quen sinh hoạt
-
Tắm nắng thường xuyên vào buổi sáng để hỗ trợ tổng hợp vitamin D nội sinh.
-
Bổ sung vitamin D3 liều 400 UI mỗi ngày cho đến khi các triệu chứng được cải thiện rõ rệt.
-
Tham khảo ý kiến bác sĩ Nhi khoa hoặc chuyên gia Dinh dưỡng để có phác đồ điều trị phù hợp với từng trường hợp. Không nên tự ý dùng thuốc bổ sung vì có thể gây hại nếu quá liều hoặc không đúng chỉ định.